Thứ Năm, 3 tháng 4, 2008

Living hell

Title: Iki-jigoku (International: Living hell)
Director: Shugo Fujii
Running time: 104 min
Country: Japan
Release: 2000
Genre: Horror/Thriller/Crime
My comment (may contains spoilers):
Bộ phim thuộc thể loại cult movie, và nhất là có xuất xứ từ Nhật Bản, do vậy không có gì ngạc nhiên nếu nó nằm trong favourite list của các horror fan. Tuy nhiên, tôi không phải là big fan của thể loại này. Với tôi, bộ phim là cả một mớ kết cấu lộn xộn (messy), bầy nhầy, bẩn thỉu, cốt làm sao gây ấn tượng thị giác ghê tởm, rùng rợn cho người xem càng nhiều càng tốt. Ngay cả đoạn kết phim, cố gắng lý giải nguyên nhân bệnh lý từ Siamese twins đến Multipersonality disorder đều khó có sức thuyết phục. Ngoài ra, lối quay và dựng phim cẩu thả, nghèo nàn ý tưởng (chả trách đoàn làm phim chỉ thực hiện trong 9 ngày), diễn xuất tầm tầm (có thể xuất phát từ nguyên nhân kinh phí) là các disappointments của bộ phim. Những tác phẩm khác cùng khai thác chủ để bệnh lí nhưng làm kĩ hơn có thể kể tới Identity (thuần tuý Hollywood) hay đặc biệt là Tales of two sisters (Korean classic). Nhưng, dĩ nhiên, điểm mạnh của Living hell đâu phải ở cốt chuyện.
Rate: 4/10

Thứ Tư, 2 tháng 4, 2008

Bàn phím và cây búa

Author: Nguyễn Hoà
Book: Bàn phím và "Cây búa", 268 trang
Publisher: NXB Văn học 2008
Price: 35k VND
Brief:
- Văn phong sắc sảo, chua ngoa, gợi nhớ đến giọng lưỡi Trần Mạnh Hảo, nhưng mang tính học thuật cũng như sắp xếp và trình bày khoa học.
- nội dung phê bình rộng, từ triết học, mĩ học tới văn học và văn hoá.
- vấn đề muôn thủa: "trình độ thực sự và thái độ khoa học nghiêm túc của các trí thức được công nhận qua bằng cấp hoặc tự xưng".
Trivia:
- từng đọc một bài phê bình của tác giả về thơ trên Nhân dân cuối tuần, rõ ràng ông N.H ác cảm với thơ "mới" (tôi ko biết nó có được gọi là hiện đại hay không), cay nghiệt với Ngựa trời (một cuộc chơi đã tàn nhưng dư âm của nó thì vẫn bình boong). Điều này khác với lời khẳng định của tác giả trong sách, chỉ nói những thứ mình hiểu (cũng có thể tác giả cho là mình đã hiểu hoặc viết theo chỉ định).
- lâu ko đi mua sách, ko biết tình hình có khác biệt ko, thời điểm mình mua thì chủ hàng sách có cho biết cuốn mình có là chuyển từ TP HCM ra, HN ko có, hôm nào lên thăm cô Lan trên nhà VH hỏi han tình hình xem sao.

Thứ Ba, 1 tháng 4, 2008

News 31/3

Jules Dassin: Con người phi thường của điện ảnh Mỹ
Athens, 31/3/2008 (AFP)
Đạo diễn kỳ cựu người Mỹ Jules Dassin đã qua đời hôm 31/3 tại Athens ở tuổi 96। Ông, một bậc thầy thể loại phim noir, người đã buộc phải sống lưu vong ở châu Âu kể từ khi bị chỉ điểm trong thời kỳ chống cộng giữa thập niên 1950 tại quê nhà।
Sinh ra tại Middletown, Connecticut năm 1911, Dassin nổi danh là một nhà làm phim cách tân (innovative) và là một trong những đạo diễn trẻ nổi bật nhất của thập niên 1940 với các bộ phim như “Brute Force” (1947) và “Naked City” (1948)।
Tuy nhiên, với tư cách là một người cộng sản hoạt động tích cực và chưa từng phản bội đức tin của mình, ông bị đưa vào danh sách đen trong giai đoạn đỉnh cao chiến dịch truy lùng vàkhủng bố những người cánh tả của Thượng nghị sĩ Joseph McCarthy
Năm 1949, Dassin rời Mỹ tới châu Âu, ban đầu là London, nơi ông làm bộ phim “Night in the City” (1959) với sự tham gia nam diễn viên Mỹ Richard Widmark và giờ đây được coi là một bước ngoặt của thể loại phim noir.
Đến Pháp, ông sản xuất bộ phim “Rififi” (Du rififi chez les hommes, 1955), dựa trên tiểu thuyết của Auguste le Breton, và ghi dấu ấn với một trường đoạn nay đã thành huyền thoại.
Trường đoạn dài 32 phút này không hề có lời thoại hay âm nhạc, và cảnh phá két chi tiết đến mức có tin đồn rằng cảnh sát Paris đã cấm trình chiếu bộ phim trong một thời gian ngắn do e ngại nó sẽ “vẽ đường chỉ lối” cho bọn tội phạm.
Bộ phim đầu tiên của Dassin ở Hi Lạp là “He who must die” (Celui qui doit mourir, 1957), chuyển thể từ tác phẩm “Christ recruicified” của tiểu thuyết gia nổi tiếng Hi Lạp Nikos Kazantzakis.
Tuy nhiên ông sẽ sớm có lý do rằng việc trở về quê hương là điều tốt lành.
Năm 1960, Dassin làm bộ phim “Never on Sunday”, một câu chuyện về một người Mỹ sống ở Hi Lạp cố gắng giải thoát cho một cô gái điếm có trái tim nhân hậu.
Bộ phim đã giành giải Oscar Bài hát hay nhất cho nhà soạn nhạc Manos Hadjidakis, và được coi là một trong những bộ phim hay nhất từng được sản xuất ở Hi Lạp.
Bản thân Dassin được đề của giải Đạo diễn xuất sắc nhất và Kịch bản hay nhất mặc dù cho đến cuối đời ông chưa từng nhận được một Oscar nào.
Tuy nhiên, điều quan trọng hơn với Dassin là tham gia bộ phim này có Melina Mercouri, một trong những nữ diễn viên được yêu thích nhất Hi Lạp.
Hai năm sau khi bộ phim hình sự bước ngoặt khác “Topkapi” (1964), giúp Peter Ustinov nhận được Oscar dành cho Nam diễn viên phụ, Dassin kết hôn với Mercouri, người cũng tham gia diễn xuất bộ phim trên.
Mercouri và Dassin chưa từng giấu giếm quan điểm chính trị cấp tiến của mình.
Cả hai đều tích cực giúp tổ chức phong trào phản kháng của Hi Lạp cùng với các chính trị gia lưu vong và giới nghệ sĩ ở Paris chống lại chế độ độc tài quân sự cánh hữu tại Hi Lạp giai đoạn 1967-1974.
Sau khi Mercouri giải nghệ, Mercouri gia nhập chính trường và trở thành Bộ trưởng Văn hoá Hi Lạp trong thập kỷ 1980.
Bà đã gây dựng và cống hiến cả đời cho chiến dịch yêu cầu trả lại những viên đá cẩm thạch Parthenon, bị đưa ra khỏi Hi Lạp từ thế kỷ 19 và nay trưng bày tại Bảo tàng Anh quốc.
Dassin tham gia chiến dịch trên rồi trở thành người đứng đầu một quỹ mang tên vợ được thành lập với mục đích bảo đảm việc quy hồi những viên đá trên cho Hi Lạp.
Mercouri mất năm 1994. Ba năm sau, Nhà nước Hi Lạp đã trao tặng danh hiệu công dân danh dự cho Dassin nhằm ghi nhận những cống hiến của ông trong chiến dịch chung của hai người.
Năm 1978, Liên hoan phim Cannes đã trao tặng ông giải thưởng Cành cọ vàng (Golden palm) cho bộ phim “A dream of Passion”, một trong những tác phẩm cuối cùng của Dassin.
Những năm cuối đời, Dassin vẫn tiếp tục hoạt động chính trị bất chấp tuổi tác và sức khoẻ giảm sút.
Ông có hai con trong cuộc hôn nhân đầu tiên với nghệ sĩ violin Beatrice Launer: Julie và Joe Dassin, ca sĩ nổi tiếng trong thập niên 1970 ở Pháp đã qua đời vào năm 1980 sau một ca truỵ tim./.

Thứ Ba, 25 tháng 3, 2008

Rỗng

em ước:
"j chẳng bao giờ quen anh"

em ước:
"j anh chẳng bao giờ gọi em ra nói chuyện"

em ước:
"j anh chẳng bao giờ ôm hôn em"

em ước:
"j để e không rơi vào tình trạng thế này"

em ạ!
anh ước:
rỗng không

Chủ Nhật, 9 tháng 3, 2008

Một bài tập

Một bài tập
Những hố cảm thức hiện đại hậu kì
đã gục chết bên rìa trận địa
đầy vinh quang và mang tính anh hùng
bát nháo
có lẽ ta đã quên điều đáng nói nhất
mà các sử gia chiến tranh
những học giả
lũ điếm
bọn trộm cắp riu
và trí thức nửa mùa
giang hồ vặt
rằng đây
chỉ là
Một bài tập
Một bài tập
Một bài tập
Một bài tập
Một bài tập
Một bài tập
Một bài tập
Một bài tập
Một bài tập
Một bài tập
Một bài tậpMột bài tập
Một bài tập
Một bài tập
Một bài tập
vMột bài tậpvMột bài tập

Thứ Tư, 13 tháng 2, 2008

Hà Nội

hà nội, 2:30am ngày 13/2/2008
xin lỗi, tôi nhầm, 2:30pm ngày 12/2/2008
những đại lộ
lèn chặt người
và những đám bụi màu cam lấp lửng trong không gian
từ một kẽ hở nào đó
trên cao
một con mắt xanh xao bay tự do trong bầu trời tím bị rạch toang từ
một cái liếc xéo
dưới phố
***
em biết đấy
trong khoảng trống giữa hai hốc mắt tím rịm
lấp đầy những mảnh giấy vụn đầy chữ
anh không cần mở miệng thật to
những bài thơ tắt ngấm như chưa từng xuất hiện
em biết đấy
em cũng vậy
hệt như một bài thơ chưa từng bắt đầu.

Thứ Sáu, 1 tháng 2, 2008

a smile to remember-Charles Bukowski

một nụ cười để nhớ - Charles Bukowski

chúng tôi từng nuôi cá vàng và chúng lượn vòng quanh
trong cái bát đặt trên bàn gần rèm nặng
che khuất cửa sổ hình ảnh và
mẹ tôi, luôn mỉm cười, muốn chúng tôi tất cả
đều hạnh phúc, nói với tôi, “hãy hạnh phúc Henry!”
và bà đúng: tốt hơn là hãy hạnh phúc nếu bạn
có thể
nhưng cha tiếp tục đánh mẹ và tôi nhiều lần một tuần khi
cơn giận trong thân hình 6 foot 2 trào ra bởi ông không thể
hiểu thứ gì đang tấn công ông từ bên trong.

mẹ tôi, con cá tội nghiệp,
muốn hạnh phúc, bị đánh hai hoặc ba lần một
tuần, nói với tôi hãy hạnh phúc: “Henry, cười đi con!
tại sao con chẳng bao giờ cười thế?”

vả rồi bà cười, cho tôi thấy nó thế nào, và đó là
nụ cười buồn nhất tôi từng thấy

một ngày lũ cá vàng chết, cả năm con,
chúng bập bềnh trên nước, nằm nghiêng, mắt
chúng vẫn mở,
và khi cha tôi về nhà ông ném chúng cho con mèo
trên sàn bếp và chúng tôi thấy mẹ
mỉm cười

a smile to remember-Charles Bukowski

we had goldfish and they circled around and around
in the bowl on the table near the heavy drapes
covering the picture window and
my mother, always smiling, wanting us all
to be happy, told me, "be happy Henry!"
and she was right: it's better to be happy if you
can
but my father continued to beat her and me several times a week while
raging inside his 6-foot-two frame because he couldn't
understand what was attacking him from within.

my mother, poor fish,
wanting to be happy, beaten two or three times a
week, telling me to be happy: "Henry, smile!
why don't you ever smile?"

and then she would smile, to show me how, and it was the
saddest smile I ever saw

one day the goldfish died, all five of them,
they floated on the water, on their sides, their
eyes still open,
and when my father got home he threw them to the cat
there on the kitchen floor and we watched as my mother
smiled